Xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42/2017/QH14 – 05 năm nhìn lại và những kiến nghị trong thời gian tới.

13/04/2022 08:47 GMT+7 227

Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) đã triển khai được gần 05 năm, với hàng loạt các cơ chế, giải pháp mang tính đột phá về hàng lang pháp lý, Nghị quyết 42 đã đóng vai trò xương sống trong việc tháo gỡ các rào cản trong quá trình xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong thời gian qua, mang lại những tác động hết sức tích cực cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng.

Kết quả mua bán, xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng và của VAMC trong 05 năm qua:

  • Kết quả xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng: 

Theo số liệu được Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Kim Anh nêu tại phiên họp ngày 31/3/2022 do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chủ trì để thẩm tra tờ trình của Chính phủ về đề xuất kéo dài thời hạn áp dụng quy định của Nghị quyết 42 được baodautu.vn đăng tải: 

Tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 của toàn hệ thống các TCTD đến 31/12/2021 là 412,7 nghìn tỷ đồng, giảm 6,32% so với cuối năm 2020 và giảm 17,21% so với ngày 14/8/2017.

Lũy kế từ 15/8/2017 đến 31/12/2021, toàn hệ thống đã xử lý được 380,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42. Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 196,9 nghìn tỷ đồng (chiếm 51,79% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã xử lý). Xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết 42 là 100,8 nghìn tỷ đồng (chiếm 26,51% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã xử lý). Xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 82,5 nghìn tỷ đồng (chiếm 21,70% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã xử lý).

Tổng số nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 được xử lý từ 15/8/2017 đến 31/12/2021 đạt trung bình khoảng 5,67 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn khoảng 2,15 nghìn tỷ đồng/tháng so với kết quả xử lý nợ xấu trung bình tại thời điểm trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực (trung bình từ năm 2012 – 2017, hệ thống các TCTD xử lý được khoảng 3,52 nghìn tỷ đồng/tháng).

Trước khi có Nghị quyết 42, nợ xấu của toàn hệ thống chủ yếu được xử lý bằng dự phòng rủi ro, các biện pháp xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) và khách hàng trả nợ còn chưa cao. Tuy nhiên, kể từ khi Nghị quyết 42 có hiệu lực, xử lý nợ xấu nội bảng thông qua hình thức khách hàng trả nợ tăng cao, từ 15/8/2017 đến 31/12/2021, xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết 42 thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 148,0 nghìn tỷ đồng (chiếm 38,93% tổng nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao hơn nhiều so với tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực (tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng trả trung bình năm từ 2012-2017 nợ/tổng nợ xấu là khoảng 22,8%). 

  • Kết quả mua bán, xử lý nợ xấu của VAMC từ khi có Nghị quyết 42

Kết quả hoạt động mua nợ: Từ khi có Nghị quyết 42 đến 31/12/2021, VAMC mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt đạt 104.413 tỷ đồng dư nợ gốc nội bảng với giá mua đạt 101.665 tỷ đồng (bằng 28% tổng giá mua nợ lũy kế từ năm 2013 đến hết năm 2021); mua nợ theo giá trị thị trường đạt 11.723 tỷ đồng dư nợ gốc nội bảng với giá mua nợ đạt 11.822 tỷ đồng, trong khi giai đoạn trước đó việc mua nợ theo giá trị thị trường của VAMC chưa triển khai được.

Kết quả xử lý, thu hồi nợ: Từ khi có Nghị quyết 42 đến 31/12/2021 ước đạt 120.739 tỷ đồng, gấp 1,9 lần giá trị thu hồi nợ lũy kế từ năm 2013 đến 15/08/2017.

Ngoài ra, hoạt động cơ cấu lại nợ, thu giữ TSBĐ, đấu giá, thẩm định giá và các hoạt động xử lý nợ khác của VAMC thời gian qua cũng đạt được nhiều kết quả khả quan, góp phần quan trọng vào kết quả xử lý nợ xấu của VAMC trong gần 05 năm qua.

Những kết quả nêu trên là minh chứng cụ thể cho hiệu quả và vai trò quyết định của Nghị quyết 42 đối với hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu của VAMC nói riêng và của toàn hệ thống ngân hàng nói chung trong thời gian qua.

Kiến nghị:

  • Trong thời gian chờ ban hành một đạo luật để đảm bảo thực thi một cách ổn định, lâu dài đối với hoạt động xử lý nợ xấu tại Việt Nam, trước mắt cần tiếp tục duy trì, kéo dài thời gian áp dụng những cơ chế, giải pháp có hiệu quả, mang tính đột phá đã được quy định tại Nghị quyết 42 để tiếp tục tạo lập hàng lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi và không làm gián đoạn hoạt động xử lý nợ xấu. Cụ thể:

Thứ nhất, quy định về Quyền thu giữ TSBĐ, áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về TSBĐ tại Tòa án để góp phần giảm thiểu các vụ việc phải giải quyết tại Tòa án, rút ngắn thủ tục, thời gian xử lý TSBĐ, tiết giảm chi phí xử lý nợ nhằm tối đa hóa nguồn thu để thu hồi, xử lý nợ xấu đạt kết quả cao nhất.

Thứ hai, quy định về Thi hành án không được kê biên đối với tài sản đang cầm cố, thế chấp khi chưa đến thời hạn trả nợ để đảm bào duy trì sự ổn định, không làm xáo trộn hoạt động cấp tín dụng/bảo đảm của TCTD và khách hàng vay/bên bảo đảm.

Thứ ba, quy định về Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ để gia tăng số tiền thu hồi nợ khi xử lý TSBĐ, giảm áp lực tài chính khi xử lý nợ, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Thứ tư, quy định về Hoàn trả TSBĐ là vật chứng trong vụ án hình sự để tiếp tục duy trì, đảm bảo việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã cam kết của các bên trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm.

Thứ năm, một số các cơ chế, giải pháp có hiệu quả khác của Nghị quyết 42 cũng đã và đang phát huy tác dụng giúp nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu như: Phân bổ lãi dự thu, chênh lệch khi bán nợ xấu của TCTD, tổ chức mua bán xử lý nợ xấu; Bán nợ xấu có TSBĐ đang bị kê biên; Chuyển nhượng TSBĐ.

Thứ sáu, các quy định trực tiếp liên quan đến VAMC còn phù hợp cũng cần được tiếp tục duy trì, áp dụng như: Được mua bán nợ xấu đang hạch toán nội, ngoại bảng cân đối kế toán của các TCTD; được bán nợ cho các tổ chức, cá nhân; được mua nợ theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 42; được chuyển các khoản nợ đã mua bằng trái phiếu đặc biệt thành khoản nợ mua theo giá trị thị trường: Những quy định này giúp VAMC mở rộng phạm vi, đối tượng mua bán nợ xấu, đa dạng hóa các phương thức mua bán nợ, đồng thời giảm bớt các thủ tục không thực sự cần thiết khi tổ chức thực hiện mua bán, xử lý nợ xấu theo giá trị thị trường, từ đó nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu.

- Về lâu dài, cần chỉnh sửa, hoàn thiện một số nội dung của Nghị quyết 42 để phù hợp hơn, khắc phục những vướng mắc nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, đảm bảo sự ổn định, lâu dài của hệ thống pháp luật về xử lý nợ xấu tại Việt Nam:

            Thứ nhất, chỉnh sửa, hoàn thiện quy định về quyền thu giữ tài sản không cần có thỏa thuận trong hợp đồng: Hiện nay, điều kiện tiên quyết để thực hiện quyền thu giữ tài sản theo quy định tại Nghị quyết 42 là phải có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD có quyền thu giữ TSBĐ. Tuy nhiên, hầu hết các hợp đồng ký kết trước thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực đều không có nội dung này, mặt khác về bản chất pháp lý, khi bên bảo đảm đồng ý thế chấp tài sản cho bên nhận bảo đảm để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ đồng nghĩa với việc bên bảo đảm đã đồng ý với việc bên nhận bảo đảm có quyền xử lý TSBĐ (bao gồm cả quyền thu giữ) khi khách hàng vay vi phạm, không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết. Tuy nhiên, với quy định nêu trên, khi cần phải xử lý TSBĐ để thu hồi nợ, Bên nhận bảo đảm sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc đàm phán để đạt được thỏa thuận thu giữ TSBĐ, nhất là đối với các khách hàng chây ỳ, không chịu hợp tác, qua đó làm kéo dài thời gian và giảm hiệu quả quá trình xử lý nợ xấu.

Thứ hai, chỉnh sửa quy định áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về TSBĐ đã đăng ký giao dịch bảo đảm: Hiện nay, Nghị quyết 42 chỉ quy định áp dụng thủ tục rút gọn đối với tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBĐ và quyền xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu mà chưa áp dụng thủ tục rút gọn đối với các tranh chấp hợp đồng tín dụng, trong khi các tranh chấp về hợp đồng tín dụng lại chiếm phần lớn và là nguyên nhân căn bản dẫn đến phát sinh nợ xấu và các tranh chấp. Để khắc phục tồn tại này, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn về việc áp dụng thủ tục rút gọn, tuy nhiên để đáp ứng các thủ tục theo yêu cầu của Tòa án cũng vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự về việc xuất hiện các tình tiết mới cũng sẽ làm gia tăng các vụ án không còn đáp ứng điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn. Do đó, cần thiết sửa đổi quy định theo hướng mở rộng phạm vi tranh chấp được thực hiện theo thủ tục rút gọn và loại trừ việc áp dụng quy định về trường hợp xuất hiện tình tiết mới khi giải quyết các vụ án về tranh chấp liên quan đến TSBĐ và hợp đồng tín dụng.

Thứ ba, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện quy định pháp luật phục vụ hoạt động xử lý nợ xấu nói chung và hoạt động của VAMC nói riêng để trực tiếp điều chỉnh các nghiệp vụ cụ thể liên quan, phục vụ quá trình mua bán, xử lý nợ xấu như: Quy định về thị trường mua bán nợ, hoạt động của Sàn giao dịch nợ; mở rộng phạm vi, đối tượng VAMC được tổ chức đấu giá để nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ xấu;…

Top