Một số vấn đề liên quan đến việc VAMC ủy quyền cho các TCTD khởi kiện và thực hiện quyền và trách nhiệm của VAMC trong thi hành các bản án/quyết định của tòa án đồi với khoản nợ mua bằng TPĐB

  • Đăng ngày: 07/12/2017
Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) là một doanh nghiệp đặc thù trong xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng được thành lập theo Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ. VAMC mua nợ xấu của các TCTD và được ủy quyền cho các tổ chức tín dụng (TCTD) bán nợ thực hiện các hoạt động của VAMC. Đối với khoản nợ VAMC mua bằng trái phiếu đặc biệt (TPĐB), TCTD bán nợ có trách nhiệm nhận và thực hiện các công việc ủy quyền của VAMC. Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến việc ủy quyền của VAMC cho các TCTD bán nợ khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm ra Tòa án (sau đây gọi tắt là “KK”) và thực hiện quyền, nghĩa vụ trong thi hành án (sau đây gọi tắt là “THA”) với các nội dung chính sau:

I – Các quy định pháp luật về ủy quyền của VAMC cho các TCTD bán nợ KK, THA và việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng, thi hành án của VAMC khi mua nợ của các TCTD

Các quy định pháp luật về ủy quyền của VAMC cho các TCTD bán nợ KK, THA
– Khoản 1 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) quy định Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự.

– Điểm h Khoản 1 Điều 7 Luật thi hành dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định Người được thi hành án có quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

– Khoản 1 Điều 138 Bộ luật dân sự 2015(BLDS) đã quy định việc ủy quyền của pháp nhân cho pháp nhân và Điểm b Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 quy định về điều khoản chuyển tiếp đối với giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự 2015.

Như vậy, việc VAMC ủy quyền cho các TCTD bán nợ là phù hợp với quy định pháp luật và kể từ ngày 1/1/2017 (thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực), nội dung và phạm vi ủy quyền tại các Hợp đồng ủy quyền giữa VAMC và các TCTD đã và đang thực hiện phù hợp với BLDS 2015 thì tiếp tục được thực hiện mà không cần phải ký lại Hợp đồng ủy quyền.

– Theo quy định tại Khoản 2 Điều 12, Khoản 7 Điều 16 Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 34/2015/NĐ-CP và Nghị định 18/2016/NĐ-CP – sau đây gọi tắt là “Nghị định 53”) thì VAMC được ủy quyền cho các TCTD bán nợ thực hiện một số các hoạt động của VAMC; VAMC được  “Khởi kiện”  hoặc “chuyển giao quyền” hoặc “uỷ quyền” cho tổ chức tín dụng bán nợ khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm ra Toà án; “uỷ quyền” cho tổ chức tín dụng bán nợ thực hiện quyền và trách nhiệm của VAMC trong thi hành án – đây là một trong các biện pháp xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của VAMC.

Do đó, theo quy định này, sau khi mua khoản nợ xấu từ TCTD, VAMC được quyền: (1) Đứng đơn KK/Đơn yêu cầu THA; hoặc (2) Chuyển giao quyền cho TCTD; hoặc (3) Uỷ quyền cho TCTD đại diện cho VAMC thực hiện KK/yêu cầu THA, tham gia và thực hiện toàn bộ quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn/ người yêu cầu thi hành án trong quá trình tố tụng/THA.

Quy định về việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng, thi hành án của VAMC khi mua nợ của các TCTD
Theo quy định tại Điểm m Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 53 VAMC được kế thừa quyền và nghĩa vụ chủ nợ của tổ chức tín dụng bán nợ, bao gồm cả quyền và nghĩa vụ tố tụng trong việc khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Toà án; kế thừa quyền và nghĩa vụ chủ nợ của tổ chức tín dụng bán nợ trong quá trình thi hành án.
Khoản 4 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định trường hợp tổ chức được chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về dân sự thì tổ chức đó kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Khoản 4 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định trường hợp đương sự thỏa thuận về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ về thi hành án cho người thứ ba thì người thứ ba có quyền, nghĩa vụ của đương sự.
          Theo đó, đối với trường hợp TCTD bán nợ đã khởi kiện khách hàng vay ra Tòa án/đã nộp  đơn yêu cầu THA và đã được Toà án thụ lý/Cơ quan THA nhận đơn yêu cầu THA, thì sau khi mua khoản nợ này của TCTD, VAMC được kế thừa quyền và nghĩa vụ trong việc KK/ yêu cầu THA tại Tòa án/cơ quan THA, trở thành nguyên đơn/người yêu cầu THA. VAMC được kế thừa quyền và nghĩa vụ của TCTD mà không phải thực hiện KK/yêu cầu THA lại.

3 – Thực tế triển khai thực hiện việc ủy quyền của VAMC cho các TCTD bán nợ đối với khoản nợ mua bằng TPĐB

Căn cứ các quy định hiện hành và đặc thù hoạt động mua nợ bằng TPĐB của VAMC (i) VAMC mua nợ có thời hạn, TCTD sẽ phải mua lại khoản nợ xấu khi TPĐB đến hạn thanh toán nếu khoản nợ chưa được xử lý hoặc thu hồi toàn bộ; (ii) Các khoản thu được từ xử lý nợ sẽ được chuyển trả cho TCTD; (iii) Các TCTD phải nhận ủy quyền của VAMC để xử lý nợ, TSBĐ. Trên thực tế, với số lượng khoản nợ mà VAMC đã mua và đang quản lý tính đến ngày 15/10/2017 đã lên tới hơn 26.171 khoản nợ của 16.230 khách hàng với địa bàn trải dài trên 63 tỉnh, thành phố thì việc ủy quyền cho các TCTD xử lý nợ, TSBĐ vừa hỗ trợ cho VAMC, vừa gắn trách nhiệm của TCTD đối với việc xử lý các khoản nợ xấu. Do đó, việc khởi kiện, ủy quyền cho các TCTD bán nợ khởi kiện, tham gia qua trình tố tụng hay ủy quyền được thực hiện quyền và trách nhiệm của VAMC trong thi hành án của VAMC được thực hiện như sau:

(1) VAMC sẽ ủy quyền cho TCTD bán nợ KK/yêu cầu THA ngay tại thời điểm mua nợ. TCTD được chủ động trong việc lựa chọn, quyết định việc xử lý nợ thông qua việc khởi kiện khách hàng vay, bên bảo đảm  ra Tòa án, TCTD được đại diện cho VAMC ký Đơn KK/yêu cầu THA và thực hiện các công việc có liên quan khác theo ủy quyền.

(2) Trường hợp TCTD bán nợ đã khởi kiện khách hàng vay ra Tòa án/đã nộp  đơn yêu cầu THA trước khi bán khoản nợ cho VAMC, VAMC thông báo việc kế thừa quyền của VAMC theo quy định tại Nghị định 53 gửi Toà án/cơ quan THA theo đề nghị của TCTD.

(3) Trong trường hợp VAMC quyết định KK/yêu cầu THA thì  Người đại diện của VAMC ký Đơn KK/Đơn yêu cầu THA. VAMC có thể tự tham gia quá trình tố tụng tại Tòa án và thi hành án của cơ quan THA hoặc ủy quyền cho TCTD/cán bộ của TCTD  thực hiện.

II – Một số phát sinh trong quá trình TCTD thực hiện KK/ yêu cầu THA theo uỷ quyền của VAMC

Trong quá trình các TCTD bán nợ thực hiện các nội dung ủy quyền của VAMC đã phát sinh một số quan điểm, cũng như cách giải quyết của một số Tòa án, Cơ quan thi hành án có khác nhau và chưa thống nhất, làm cho quá trình giải quyết vụ việc bị kéo dài ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hồi nợ của VAMC cũng như của TCTD bán nợ.  Theo phản ánh của các TCTD bán nợ và các văn bản mà VAMC nhận được, các khó khăn, vướng mắc liên quan đến vấn đề khởi kiện, tham gia quá trình tố tụng tại Tòa án, THA tập trung vào một số nội dung sau:

Đối với các hợp đồng ủy quyền giữa TCTD và VAMC ký kết trước thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực thi hành (1/1/2017), Tòa án yêu cầu VAMC phải trực tiếp tham gia tố tụng hoặc ký lại văn bản ủy quyền cho TCTD kể từ thời điểm 1/1/2017.
Quan điểm này là chưa phù hợp với quy định  về điều khoản chuyển tiếp tại Điểm b Khoản 1 Điều 688 BLDS là đối với giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật này. Như vậy, nội dung và phạm vi ủy quyền tại các Hợp đồng ủy quyền giữa VAMC và các TCTD đã và đang thực hiện phù hợp với BLDS 2015 thì tiếp tục được áp dụng mà không cần phải sửa đổi Hợp đồng ủy quyền.

Tòa án yêu cầu người đứng Đơn khởi kiện phải là VAMC, người đại diện hợp pháp của VAMC phải ký tên và đóng dấu của VAMC trên Đơn khởi kiện. VAMC phải trực tiếp ủy quyền cho cá nhân đại diện VAMC tham gia tố tụng.
– Về việc Tòa án yêu cầu người đứng Đơn khởi kiện phải là VAMC là chưa hợp lý vì: Theo quy định tại Điều 186 BLTTDS thì VAMC có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (được gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, Người đại diện hợp pháp của VAMC (là TCTD bán nợ) cũng chính là người khởi kiện. Căn cứ vào Hợp đồng ủy quyền đã ký giữa VAMC và TCTD thì TCTD bán nợ là người đại diện hợp pháp (đại diện theo ủy quyền) của VAMC, thay mặt VAMC thực hiện việc khởi kiện. Theo đó, TCTD cũng là Người khởi kiện theo quy định tại Điều 186 BLTTDS. Người đại diện hợp pháp của TCTD ký tên trên Đơn khởi kiện và đóng dấu của TCTD là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 189 BLTTDS.

– Về việc Tòa án yêu cầu ủy quyền rõ cá nhân được ủy quyền và nội dung công việc cụ thể phải thực hiện: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 1 Hợp đồng ủy quyền đã ký giữa VAMC và TCTD thì TCTD được ủy quyền bằng văn bản cho cán bộ, nhân viên của mình thực hiện các công việc được VAMC ủy quyền, do đó, TCTD được chủ động ủy quyền cho cán bộ của mình để đảm bảo tính linh hoạt trong việc xử lý nợ, tài sản bảo đảm.

Một số Tòa án có quan điểm không chấp nhận việc VAMC kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của TCTD, yêu cầu TCTD rút Đơn khởi kiện và VAMC làm lại Đơn khởi kiện (đối với trường hợp TCTD đã khởi kiện trước khi bán nợ cho VAMC). Có Toà án vẫn giữ nguyên tư cách nguyên đơn của TCTD bán nợ và yêu cầu VAMC tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Quan điểm này là chưa phù hợp với quy định tại Khoản 4 Điều 74 BLTTDS 2015 về trường hợp tổ chức được chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về dân sự thì tổ chức đó kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng và Khoản 1 Điều 7 Thông tư 19/2013/TT-NHNN ngày 6/9/2013 (đã được sửa đổi, bổ sung) khi khoản nợ được TCTD bán cho VAMC thì “…toàn bộ các quyền và lợi ích gắn liền với khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm và biện pháp bảo đảm khác cho khoản nợ xấu được bên bán nợ giữ nguyên hiện trạng và chuyển giao cho bên mua nợ theo hợp đồng mua, bán nợ”. Theo đó, khi khoản nợ được chuyển giao cho VAMC thì VAMC được kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của TCTD đối với các khoản nợ đã mua từ TCTD; quyền và nghĩa vụ của TCTD đối với khách hàng vay, bên bảo đảm theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm và các thỏa thuận khác (nếu có),bao gồm cả quyền, nghĩa vụ tố tụng của TCTD đối với các khoản nợ TCTD đã bán cho VAMC.

Theo Hợp đồng ủy quyền đã ký giữa VAMC và TCTD thì TCTD không được ủy quyền lại cho bên thứ ba thực hiện các nội dung được ủy quyền nếu không được sự đồng ý trước bằng văn bản của VAMC. Do đó, việc TCTD ủy quyền/phân công cho cán bộ của mình thực hiện công việc được VAMC ủy quyền phải được VAMC đồng ý bằng văn bản.
Việc VAMC ủy quyền cho TCTD là ủy quyền cho pháp nhân. Trên cơ sở Hợp đồng ủy quyền của VAMC, TCTD phân công, ủy quyền cho cán bộ của TCTD tham gia tố tụng và TCTD chịu trách nhiệm về việc thực hiện nội dung ủy quyền của các cán bộ này mà không cần “phải được VAMC đồng ý bằng văn bản”. Theo đó, những cán bộ này là những người đại diện của TCTD chứ không phải bên thứ ba.

Trường hợp TCTD đã nộp đơn yêu cầu THA trước khi bán khoản nợ sang VAMC: Một số cơ quan THA chỉ chấp thuận việc chuyển giao quyền của Người được thi hành án của TCTD cho VAMC mà không chấp thuận cho VAMC được kế thừa quyền và nghĩa vụ trong quá trình thi hành án của TCTD. Theo đó, cơ quan THA yêu cầu TCTD rút đơn yêu cầu thi hành án và VAMC phải nộp lại đơn yêu cầu thi hành án.
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 74 BLTTDS 2015 và Khoản 1 Điều 7 Thông tư 19/2013/TT-NHNN ngày 6/9/2013 (đã được sửa đổi, bổ sung) thì yêu cầu của cơ quan thi hành án trong trường hợp này là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Vì thực tế, có trường hợp, quá trình thi hành án đã thực hiện xong giai đoạn như: xác minh điều kiện thi hành án, hoà giải…, khi khoản nợ được bán cho VAMC  mà  VAMC không được kế thừa toàn bộ quá trình Thi hành án đã thực hiện trước đó thì sẽ kéo dài thời gian thi hành án và ảnh hưởng đến thời gian thu hồi nợ của VAMC.

Những khó khăn, vướng mắc nêu trên đã được VAMC phản ánh tới Ngân hàng Nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Tổng cục thi hành án dân sự – Bộ Tư pháp và đang được các cơ quan nghiên cứu, giải quyết. Hy vọng rằng Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành Nghị quyết của HĐTP hướng dẫn cụ thể các vấn đề nêu trên để các quy định của Pháp luật được thực thi thống nhất trên thực tế và Tổng cục thi hành án dân sự có văn bản chỉ đạo các Cục, Chi cục Thi hành án các địa phương thống nhất thực hiện, cũng như sớm tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, hỗ trợ VAMC hoàn thành nhiệm vụ xử lý nợ xấu cho nền kinh tế.

Ngô Thị  Minh Thảo (Ban Pháp chếVAMC)

©2013 Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)

Cơ quan chủ quản: NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Chịu trách nhiệm nội dung: Chủ tịch Hội đồng thành viên Nguyễn Tiến Đông

Địa chỉ: 22 Hàng Vôi - Hoàn Kiếm - Hà Nội

Điện thoại: (+84) 4 3935 2884

Fax: (+84) 4 3935 2874

Email: contact@sbvamc.vn