Bàn về vấn đề thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo đảm trước thời điểm bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực

  • Đăng ngày: 19/01/2018
Áp dụng các quy định pháp luật để thực hiện thỏa thuận về thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ tại hợp đồng bảo đảm ký trước ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực (ngày 1/1/2017)

Trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay, vấn đề thu giữ tài sản bảo đảm (TSBĐ) chỉ được đặt ra khi bên bảo đảm (là khách hàng vay hoặc chủ tài sản) không hợp tác với bên nhận bảo đảm (là chủ nợ). Đối với các hợp đồng bảo đảm (ký trước ngày BLDS 2015 có  hiệu lực) đã có thỏa thuận về việc xử lý TSBĐ bao gồm cả quyền thu giữ TSBĐ để thu hồi nợ của bên nhận bảo đảm sẽ được thực hiện như thế nào sau khi Bộ luật dân sự  2015 có hiệu lực thi hành?. Bài viết này chỉ đề cập đến việc áp dụng các quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ thông qua việc thu giữ TSBĐ theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo đảm được ký trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực thi hành.

Quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ
1.1.  Quy định của BLDS 2015(có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2017)

Điều 299 BLDS 2015 đã ghi nhận quyền của Bên nhận bảo đảm được xử lý TSBĐ khi (i) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; (ii) Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; (iii) Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.
Bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý TSBĐ cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác trước khi xử lý TSBĐ (Điều 300). Người đang giữ TSBĐ có nghĩa vụ giao TSBĐ cho bên nhận bảo đảm để xử lý, trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác (Điều 301).
Điểm a Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 quy định về điều khoản chuyển tiếp đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau: “Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11”.
1.2. QUY ĐỊNH CỦA NGHỊ QUYẾT 42/2017/QH14 NGÀY 21/6/2017 (NGHỊ QUYẾT 42)
Nghị quyết 42 quy định bên nhận bảo đảm (là TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC) quy định quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện: (i) Khi xảy ra trường hợp xử lý TSBĐ theo quy định tại Điều 299 của BLDS; (ii) Tại hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thu giữ TSBĐ; (iii) Hợp đồng bảo đảm đã được đăng ký theo quy định của pháp luật; (iv) TSBĐ không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền; không đang bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật; (v) Bên nhận bảo đảm đã hoàn thành nghĩa vụ công khai thông tin thu giữ TSBĐ theo quy định.

Ngoài ra, Nghị quyết 42 còn quy định trách nhiệm của Chính quyền địa phương các cấp và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ TSBĐ thực hiện việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình thu giữ TSBĐ theo đề nghị của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu. Trường hợp bên bảo đảm không hợp tác hoặc không có mặt theo thông báo của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thu giữ TSBĐ tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ TSBĐ.

1.3. Quy định của BLDS 2005 và Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm (đã được sửa đổi, bổ sung)(Nghị định 163)

– Điều 336, 355 BLDS 2005 quy định trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thoả thuận thì TSBĐ được xử lý theo phương thức do các bên đã thoả thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ. Bên nhận nhận bảo đảm được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán TSBĐ.

– Khoản 5 Điều 351 BLDS 2005 quy định đối với tài sản thế chấp, bên nhận thế chấp được quyền yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

– Điều 63 Nghị định 163 quy định bên giữ TSBĐ phải giao tài sản đó cho người xử lý tài sản (là bên nhận bảo đảm hoặc người được bên nhận bảo đảm ủy quyền) theo thông báo của người này, nếu hết thời hạn ấn định trong thông báo mà bên giữ TSBĐ không giao tài sản thì người xử lý tài sản có quyền thu giữ TSBĐ để xử lý hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết. Người xử lý tài sản có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ TSBĐ giữ gìn an ninh, trật tự, bảo đảm cho người xử lý tài sản thực hiện quyền thu giữ TSBĐ.

Căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên, thỏa thuận về thu giữ  TSBĐ để xử lý thu hồi nợ được thực hiện như sau:

(1) Hợp đồng bảo đảm được ký sau khi BLDS 2015 có hiệu lực (kể từ ngày 1/1/12017) các bên được thỏa thuận về nghĩa vụ giao TSBĐ cho bên nhận bảo đảm để xử lý, trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

(2) Các thỏa thuận về thu giữ TSBĐ tại hợp đồng bảo đảm đã ký trước thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực và được căn cứ vào BLDS 2005, Nghị định 163 thì tiếp tục được thực hiện theo quy định của BLDS 2005, Nghị định 163, nếu các bên không có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung (áp dụng điều khoản chuyển tiếp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015).

(3) Việc thu giữ TSBĐ theo Nghị quyết 42 phải đáp ứng các đầy đủ các điều kiện quy định và bên nhận bảo đảm được đề nghị Chính quyền địa phương các cấp và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ TSBĐ trong quá trình bên nhận bảo đảm thực hiện thu giữ TSBĐ.

Thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ thông qua việc thu giữ TSBĐ theo thỏa thuận tại các hợp đồng bảo đảm đã ký trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực
Qua xem xét các hợp đồng bảo đảm đã ký của một số TCTD cho thấy thỏa thuận về xử lý tài sản bảo đảm tại các hợp đồng bảo đảm của các TCTD là khác nhau hoặc của cùng một TCTD nhưng các thời kỳ cũng có quy định khác nhau, như:

2.1. Có thỏa thuận bàn giao TSBĐ, nếu bên bảo đảm không bàn giao TSBĐ thì bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ/chiếm giữ/thu hồi tài sản để xử lý tài sản thu hồi nợ

Đối với thỏa thuận này, căn cứ vào quy định tại BLDS 2005, Nghị định 163, Điểm a Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015  bên nhận bảo đảm được quyền yêu cầu giao tài sản cho bên nhận bảo đảm để xử lý, nếu hết thời hạn ấn định trong thông báo mà bên bảo đảm không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ TSBĐ để xử lý tài sản thu hồi nợ.

Việc yêu cầu Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an nơi hỗ trợ giữ gìn trật tự cho bên nhận bảo đảm thực hiện quyền thu giữ TSBĐ theo quy định tại Điều 63 Nghị định 163. Việc hỗ trợ Công ty Quản lý tài sản (VAMC) thu hồi, thu giữ TSBĐ được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Nghị định 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 (đã được sửa đổi, bổ sung). Ngoài ra, khi thực hiện quyền thu giữ TSBĐ đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 7 Nghị quyết 42, bên nhận bảo đảm có quyền đề nghị Chính quyền địa phương các cấp và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ TSBĐ thực hiện việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình thu giữ, tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ tài sản bảo đảm nếu bên bảo đảm không hợp tác hoặc không có mặt theo thông báo của bên nhận bảo đảm.

2.2. Có thỏa thuận về việc bàn giao TSBĐ nhưng không thỏa thuận về quyền thu giữ của bên nhận bảo đảm khi bên bảo đảm không bàn giao tài sản hoặc không có thỏa thuận về việc bàn giao TSBĐ mà chỉ thỏa thuận về việc xử lý TSBĐ được thực hiện “theo quy định của pháp luật”. Các hợp đồng bảo đảm đều ghi nhận bên nhận bảo đảm có các quyền khác theo hợp đồng bảo đảm và theo quy định của pháp luật

Quá trình thực hiện các thỏa thuận này hiện có 02 quan điểm:

Quan điểm 1: Bên nhận bảo đảm vẫn có quyền thu giữ TSBĐ

Khi các bên ký kết hợp đồng bảo đảm đã thỏa thuận việc xử lý TSBĐ được thực hiện “theo quy định của pháp luật” hay bên nhận bảo đảm có các quyền khác “theo quy định của pháp luật”, quy định pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm là Nghị định 163 và các bên đều biết việc xử lý TSBĐ của bên nhận bảo đảm bao gồm cả quyền “yêu cầu giao TSBĐ” và quyền “thu giữ TSBĐ”. Theo đó, nếu hết thời hạn ấn định trong thông báo mà bên giữ TSBĐ không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ TSBĐ để xử lý. Hơn nữa, các giao dịch dân sự là hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã được ký kết và đang được thực hiện trước khi BLDS 2015 có hiệu lực.

Do đó, căn cứ điều khoản chuyển tiếp tại Điểm a Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 về giao dịch dân sự được xác lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực thì quy định pháp luật về xử lý TSBĐ trong trường hợp này phải được áp dụng là Nghị định 163 bao gồm quyền “yêu cầu giao TSBĐ” và “ thu giữ TSBĐ”.

Quan điểm 2: Bên nhận bảo đảm chỉ có thể yêu cầu Tòa án giải quyết trong trường hợp Bên bảo đảm không bàn giao TSBĐ

Căn cứ pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm (trước ngày 1/1/2017) là Nghị định 163, tuy nhiên, khi thực hiện quyền xử lý tài sản bảo đảm sau ngày 1/1/2017 thì phải áp dụng quy định pháp luật có hiệu lực tại thời điểm thực hiện quyền xử lý TSBĐ là BLDS 2015. Theo đó, bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu người đang giữ TSBĐ có nghĩa vụ giao TSBĐ cho bên nhận bảo đảm để xử lý, trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết (trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác) (Điều 301) mà không có quyền thu giữ TSBĐ.

Quan điểm này là chưa phù hợp với ý chí của các bên tại thời điểm ký hợp đồng bảo đảm, dẫn đến tình trạng tiếp tục trây ỳ thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người vay, nghĩa vụ đã cam kết của bên bảo đảm, “kỷ luật” hợp đồng bị phá vỡ và việc xử lý nợ xấu bị kéo dài thời gian. Do đó, khi thực hiện thỏa thuận về xử lý TSBĐ trong trường hợp này phải được hiểu theo Quan điểm 1 nêu trên thì mới đúng với thỏa thuận của các bên và phù hợp với quy định pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng.

Thực hiện bài viết: Ngô Thị Minh Thảo – Trưởng Ban Pháp chế

©2013 Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)

Cơ quan chủ quản: NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Chịu trách nhiệm nội dung: Chủ tịch Hội đồng thành viên Nguyễn Tiến Đông

Địa chỉ: 22 Hàng Vôi - Hoàn Kiếm - Hà Nội

Điện thoại: (+84) 4 3935 2884

Fax: (+84) 4 3935 2874

Email: contact@sbvamc.vn