MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TẠI NGHỊ ĐỊNH SỐ 21/2024/NĐ-CP QUY ĐỊNH TIỀN LƯƠNG NGƯỜI LAO ĐỘNG, NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

16/05/2024 12:05 GMT+7 414

Ngày 23/2/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 21/2024/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2016/NĐ-CP ngày 13/6/2016 và Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 13/6/2016 quy định về quản lý lao động, tiền lương, tiền thưởng, thù lao đối với người lao động và người quản lý làm việc trong Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ với những nội dung quan trọng, thiết thực, là tiền đề để tiến tới cải cách căn bản quản lý lao động và tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018.

                              

Bối cảnh ban hành Nghị định số 21/2024/NĐ-CP:

Ngày 13/6/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 51/2016/NĐ-CP và Nghị định số 52/2016/NĐ-CP. Theo đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành các Thông tư hướng dẫn để công ty: xác định hạng doanh nghiệp; xác định quỹ tiền lương, thù lao, quỹ tiền thưởng của người lao động và người quản lý; xây dựng chính sách tiền lương đối với người lao động và người quản lý. 

Sau gần 08 năm triển khai thực hiện các quy định này, bên cạnh những thuận lợi, các quy định cũng bộc lộ những tồn tại, hạn chế như: (i) việc mở ra cơ chế cho doanh nghiệp được quyền xây dựng và ban hành thang lương, bảng lương và phụ cấp lương đối với người lao động, nhưng người quản lý vẫn phải theo mức do Nhà nước quy định là chưa phù hợp, chưa khuyến khích người quản lý công ty trong công tác quản lý, điều hành doanh nghiệp; (ii) mức lương cơ bản của người quản lý giữ nguyên từ năm 2013 đến nay (từ khi Nghị định số 51/2013/NĐ-CP có hiệu lực ngày 01/7/2013), trong khi mức tiền lương bình quân của người lao động tăng dần qua các năm dẫn đến bất cập về quan hệ tiền lương giữa người quản lý và người lao động; (iii) việc quy định riêng cơ chế đối với từng loại hình doanh nghiệp (công ty TNHH MTV do nhà nước năm giữ 100% vốn điều lệ, công ty cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước…) dẫn đến về tương quan tiền lương giữa các loại hình doanh nghiệp còn chưa phù hợp, đặc biệt mức lương của người quản lý tại các công ty TNHH MTV do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ còn khá thấp so với mặt bằng tiền lương trên thị trường lao động.

Ngày 21/5/2018, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp. Theo đó doanh nghiệp được tự quyết định chính sách tiền lương, thực hiện giao khoán chi phí tiền lương gắn với nhiệm vụ, điều kiện sản xuất kinh doanh, ngành nghề, tính chất hoạt động của doanh nghiệp. Phân định rõ tiền lương của người đại diện vốn nhà nước (Hội đồng thành viên) với tiền lương của ban điều hành, tiến tới thuê hội đồng thành viên độc lập và trả lương cho hội đồng thành viên, kiểm soát viên từ lợi nhuận sau thuế. Tổng giám đốc và các thành viên ban điều hành làm việc theo chế độ hợp đồng lao động và hưởng lương trong quỹ lương chung của doanh nghiệp. Đây là một bước tiến lớn, thay đổi toàn diện từ cơ cấu tổ chức đến phân phối tiền lương gắn với quyền, trách nhiệm và kết quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Việc Chính phủ đã ban hành Nghị định số 21/2024/NĐ-CP để bước đầu tháo gỡ một số hạn chế, vướng mắc cho doanh nghiệp cần xử lý ngay và đây sẽ là tiền đề cho việc tiếp tục thực hiện lộ trình cải cách toàn diện về chính sách tiền lương trong thời gian tới.

Một số điểm mới của Nghị định số 21/2024/NĐ-CP:

Một số nội dung quy định sửa đổi, bổ sung đối với người lao động và người quản lý đáng chú ý tại Nghị định 21/2024/NĐ-CP gồm: 

  • Quy định đối với người quản lý, kiểm soát viên chuyên trách:

+ Nội dung về tiền lương, thù lao đối với người quản lý, kiểm soát viên tại Nghị định 21/2024/NĐ-CP quy định: Căn cứ vào cơ cấu tổ chức quản lý, Hội đồng thành viên công ty xây dựng, ban hành bảng lương và xếp lương đối với người quản lý, kiểm soát viên chuyên trách làm cơ sở để thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động

Theo đó, Hội đồng thành viên công ty đã được giao quyền chủ động xây dựng bảng lương cho người quản lý, kiểm soát viên làm cơ sở để thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các chế độ khác theo nguyên tắc: phải bảo đảm quỹ tiền lương tính theo các mức lương trong bảng lương không được vượt quá quỹ tiền lương kế hoạch của người quản lý, kiểm soát viên chuyên trách theo quy định tại Nghị định này. Với quy định này, việc thực hiện các chế độ liên quan đến đóng BHXH, BHYT, BHTN và các chế độ khác đối với người quản lý, kiểm soát viên chuyên trách đã phù hợp với quy định của pháp luật về BHXH, mặt khác, cũng như đối với người lao động, việc thực hiện các chế độ nói trên với người quản lý, kiểm soát viên chuyên trách đều căn cứ trên cơ sở kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh, do vậy giải quyết được căn bản bất cập khi trong cùng một doanh nghiệp nhưng mức tiền lương thực hiện các chế độ này đối với người quản lý, kiểm soát viên chuyên trách nhiều trường hợp thấp hơn nhiều so với người lao động.   

+ Nội dung về xác định hạng doanh nghiệp để làm cơ sở xếp lương đối với người quản lý cũng có thay đổi so với quy định trước đây. Tại Nghị định 52/2016/NĐ-CP quy định các chỉ tiêu để xác định hạng Tổng công ty đặc biệt, hạng Tổng công ty gồm: Vốn nhà nước từ (2.500;1.800) tỷ đồng trở lên, lợi nhuận từ (200;100) tỷ đồng trở lên, nộp ngân sách nhà nước từ (200;100) tỷ đồng trở lên, có từ (10;5) đơn vị thành viên trở lên hoặc có tổng số lao động từ (10.000;7.000) người trở lên, đến Nghị định 21/2024/NĐ-CP quy định các chỉ tiêu để xác định hạng Tổng công ty đặc biệt, Tổng công ty về vốn nhà nước, lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước không đổi, chỉ tiêu số lượng đơn vị thành viên và người lao động được quy định thành: có từ (10;5) đơn vị thành viên trở lên hoặc có tổ chức sản xuất, kinh doanh trên phạm vi cả nước. Với các thay đổi như trên cùng với việc bỏ tiêu chí số lượng người lao động trong doanh nghiệp, về cơ bản việc xác định hạng doanh nghiệp đã căn cứ vào quy mô vốn, hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh qua đó khuyến khích các doanh nghiệp tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở ứng dụng công nghệ, tinh giảm bộ máy tổ chức và nhân lực của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nội dung về chỉ tiêu lợi nhuận nếu có sự phân loại giữa các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường và các doanh nghiệp đặc thù hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận thì sẽ phù hợp hơn (quy định về loại trừ yếu tố khách quan ảnh hưởng đến năng suất lao động, lợi nhuận kế hoạch so với năm trước liền kề trong Nghị định 52/2016/NĐ-CP chỉ phù hợp trong việc xác định tiền lương, thù lao kế hoạch).            

+ Nội dung hệ số tăng thêm so với mức lương cơ bản khi công ty có lợi nhuận tại Nghị định 21/2024/NĐ-CP đã được bổ sung thêm và có sự điều chỉnh phù hợp với thực tế và thị trường lao động, cụ thể: tại Nghị định 52/2016/NĐ-CP chỉ quy định 03 mức hệ số tăng thêm so với mức tiền lương cơ bản gồm: 0,5; 0,7; 1,0; Nghị định 21/2024/NĐ-CP ban hành điều chỉnh tăng lên 05 mức gồm: 0,5; 1,0; 1,5; 2,0; 2,5 và quy định trường hợp đặc biệt hệ số điều chỉnh tăng thêm trên 2,5 lần. Quy định này tạo điều kiện để các công ty có mức lợi nhuận cao, quy mô công ty lớn sẽ được nâng mức lương cơ bản của người quản lý lên cao hơn, sát với mức lương trên thị trường, từ đó khuyến khích được người quản lý nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh.

  • Quy định đối với người lao động:

Nội dung chính quy định về tiền lương đối với người lao động tại Nghị định 21/2024/NĐ-CP là: Căn cứ vào tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, Công ty xây dựng và ban hành thang lương, bảng lương, phụ cấp lương làm cơ sở để xếp lương, trả lương và thực hiện các chế độ đối với người lao động. Quy định này cơ bản đã cụ thể hoá tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW và phù hợp với quản lý tiền lương đối với người lao động trong doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, đảm bảo tính tự chủ của người sử dụng lao động trong doanh nghiệp trong việc thực hiện chính sách tiền lương phù hợp với thị trường lao động, kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và kết quả công việc của người lao động, qua đó nâng cao năng lực và hiệu quả quản trị doanh nghiệp nói chung và lao động tiền lương nói riêng./. 

Nguyễn Xuân Huy – Văn phòng giúp việc HĐTV
Top