Những điểm mới đáng chú ý của Luật doanh nghiệp 2020 so với Luật Doanh nghiệp 2014 về Doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và một số quy định liên quan”
01/10/2020 10:56 GMT+7 3.742
Ngày 17/06/2020, Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021, thay thế Luật Doanh nghiệp 2014. Kể từ khi đạo Luật đầu tiên về Doanh nghiệp ra đời vào năm 1999 (dựa trên sự hợp nhất của Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty 1990), phụ thuộc vào sự thay đổi của tình hình kinh tế xã hội, tính đến nay, Luật Doanh nghiệp đã trải qua 3 lần thay thế: Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Doanh nghiệp 2020. Luật Doanh nghiệp 2020 ra đời nhằm tác động tích cực đến việc thúc đẩy phát triển Doanh nghiệp, thu hút vốn đầu tư và nâng cao quản trị Doanh nghiệp, hướng tới sự phát triển bền vững của Doanh nghiệp chứ không kỳ vọng tăng cao số lượng Doanh nghiệp . Bài viết dưới đây chỉ ra một số điểm mới đáng chú ý của Luật doanh nghiệp 2020 so với Luật Doanh nghiệp 2014 về Doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và một số quy định liên quan.
I. Phần “Quy định chung”
Luật Doanh nghiệp 2014 quy định Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và Công ty cổ phần có thể có hơn một người đại diện theo pháp luật, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật sẽ được quy định tại Điều lệ của Doanh nghiệp. Thực tế áp dụng cho thấy, việc phân chia không rõ ràng quyền và nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật tại Điều lệ Doanh nghiệp có thể dẫn đến tranh chấp, khi giao dịch được thực hiện bởi người đại diện theo pháp luật không đủ thẩm quyền, hoặc không thể xác định người đại diện theo pháp luật có đủ thẩm quyền để thực hiện giao dịch hay không. Những bất cập này khiến cho bên thứ ba còn e ngại trong việc thực hiện giao dịch với Doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật.
Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 đã giải quyết vấn đề này, bảo vệ lợi ích của bên thứ ba trong giao dịch khi bổ sung quy định: “nếu Điều lệ không quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật, thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là người đại diện đủ thẩm quyền của Doanh nghiệp trước bên thứ ba”. Đồng thời, Luật Doanh nghiệp 2020 ghi nhận việc chịu trách nhiệm liên đới của tất cả những người đại diện theo pháp luật đối với những thiệt hại gây ra cho Doanh nghiệp.
2. Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng sửa đổi, bổ sung một số quy định tại phần “Quy định chung” để thống nhất với quy định của một số Luật chuyên ngành khác, như sau:
(1) Điều 8.5 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi quy định “không được sử dụng lao động cưỡng bức và lao động trẻ em” thành “không được sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật”, nhằm phù hợp với quy định tại Bộ Luật Dân sự và Luật Lao động hiện hành, theo đó, người sử dụng lao động có thể sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi trở lên nhưng phải đáp ứng một số điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật.
(2) Để phù hợp với quy định tại Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 8.1 và 16.6 đã bổ sung quy định về “ngành nghề tiếp cận thị trường có điều kiện” và “ngành nghề chưa được tiếp cận thị trường”. Luật Đầu tư (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2020, đã bổ sung quy định về Danh mục ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài, danh mục này bao gồm: ngành, nghề nhà đầu tư nước ngoài chưa được tiếp cận thị trường; và ngành, nghề nhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận thị trường có điều kiện.
II. Phần “Thành lập Doanh nghiệp”
1. Hình thức đăng ký Doanh nghiệp, góp vốn thành lập Doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp 2020 ghi nhận cụ thể 3 hình thức đăng kí Doanh nghiệp: (1) đăng kí trực tiếp tại cơ quan đăng kí kinh doanh, (2) qua dịch vụ bưu chính và (3) qua mạng thông tin điện tử. Luật Doanh nghiệp 2014 tuy chưa ghi nhận cụ thể hình thức đăng kí Doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử, nhưng bằng những văn bản hướng dẫn thi hành, hiện nay, trên thực tế, các Doanh nghiệp và các văn phòng đăng kí kinh doanh thuộc Sở kế hoạch đầu tư đã triển khai thực hiện việc đăng kí Doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử. Bên cạnh đó, Doanh nghiệp vẫn phải thực hiện nộp bản giấy sau khi đã nộp hồ sơ đăng ký Doanh nghiệp dưới dạng văn bản điện tử.
Cùng với việc ghi nhận cụ thể các hình thức đăng ký Doanh nghiệp, Điều 26 Luật Doanh nghiệp 2020 cũng lần đầu tiên ghi nhận thêm nội dung: “hồ sơ đăng ký Doanh nghiệp qua mạng điện tử có giá trị tương đương bản giấy”. Việc ghi nhận này cũng có thể là một trong những tín hiệu rằng, các nhà làm luật có thể sẽ lược bỏ thủ tục nộp hồ sơ đăng kí Doanh nghiệp bản giấy, sau khi Doanh nghiệp đã thực hiện thủ tục nộp hồ sơ đăng kí Doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử.
Kể từ ngày 01/01/2021, đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, ngoài việc thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản, cá nhân, tổ chức còn có thể thực hiện góp vốn thành lập Doanh nghiệp thông qua tài khoản, việc bổ sung hình thức giao nhận này tại Luật Doanh nghiệp 2020 là hợp lý đối với tài sản góp vốn như: Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi,…
2. Đơn vị phụ thuộc của Doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp 2020 vẫn ghi nhận 03 loại hình đơn vị phụ thuộc của Doanh nghiệp là: (1) chi nhánh (2) văn phòng đại diện và (3) địa điểm kinh doanh. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2021, việc đặt tên cho địa điểm kinh doanh phải có thêm cụm từ “Địa điểm kinh doanh” kèm tên Doanh nghiệp, và Doanh nghiệp phải thực hiện thông báo khi thành lập địa điểm kinh doanh mới theo quy định tại Điều 44.5 Luật Doanh nghiệp 2020.
3. Thông báo mẫu dấu của Doanh nghiệp
Việc bước đầu “cởi trói” cho Doanh nghiệp đối với các quy định về con dấu phải kể đến Luật Doanh nghiệp 2014, khi đã trao toàn quyền quyết định về hình thức, nội dung con dấu cho Doanh nghiệp, mà không cần phải thông qua cơ quan Công an, như quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005 và những quy định có liên quan. Tuy nhiên, Doanh nghiệp vẫn phải gửi thông báo mẫu dấu đến cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng Thông tin quốc gia về đăng ký Doanh nghiệp. Cho đến Luật Doanh nghiệp 2020, nhà làm luật đã trao sự chủ động cho Doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng con dấu, khi bãi bỏ quy định về việc Doanh nghiệp phải gửi thông báo mẫu dấu đến cơ quan đăng ký kinh doanh.
III. Phần “Doanh nghiệp nhà nước”
1. Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước
- Ngày 12/11/2018, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CP TPP). Theo Hiệp định này, Doanh nghiệp nhà nước là Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết…
Luật Doanh nghiệp 2020 quy định Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.
Như vậy, ta có thể thấy, việc sửa đổi khái niệm về Doanh nghiệp nhà nước tại Luật Doanh nghiệp 2020 là phù hợp với các cam kết quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập khi nước ta đã chính thức tham gia Hiệp định CP TPP.
2. Bổ nhiệm lại, chế độ làm việc của thành viên Hội đồng thành viên
- Luật Doanh nghiệp 2020 giữ nguyên quy định: “nhiệm kỳ của thành viên HĐTV không quá 5 năm. Một cá nhân được bổ nhiệm làm thành viên HĐTV không quá 2 nhiệm kỳ tại một công ty”, tuy nhiên, bổ sung trường hợp: nếu thành viên HĐTV đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đầu, thì không còn bị hạn chế số nhiệm kỳ được bổ nhiệm lại theo quy định trên.
- Thành viên HĐTV tại Doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ không còn bắt buộc làm việc theo chế độ chuyên trách, cụ thể như sau:
Thành viên HĐTV tại Doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ làm việc chuyên trách theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 và tại Điều 8 Nghị định 97/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 về Quản lý người giữ chức danh, chức vụ tại Doanh nghiệp là công ty TNHH MTV do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ quy định: “Người được bổ nhiệm giữ chức danh thành viên Hội đồng thành viên có thể kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc, Giám đốc tập đoàn, tổng công ty, công ty mình.”
Luật Doanh nghiệp 2020 không còn quy định về thành viên HĐTV làm việc chuyên trách; bên cạnh đó, bổ sung quy định “trừ chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc, Tổng Giám đốc công ty đó hoặc công ty khác không phải là doanh nghiệp thành viên theo quyết định của chủ sở hữu” tại Điều 93.
3. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về Ban kiểm soát, thành viên Ban kiểm soát
- Ban Kiểm soát
Luật Doanh nghiệp 2020 quy định 02 mô hình tổ chức quản lý Doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ: (1) Chủ tịch Công ty, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Ban kiểm soát và (2) Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Ban kiểm soát.
Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định về hai mô hình tổ chức quản lý Doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ như sau: (1) Chủ tịch Công ty, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Kiểm soát viên và (2) Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Kiểm soát viên.
Việc bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát có từ 01-05 thành viên và có Trưởng Ban kiểm soát là một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật Doanh nghiệp 2020. Trong khi đó, tại Luật Doanh nghiệp 2014, căn cứ vào quy mô Doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm 01 Kiểm soát viên hoặc thành lập Ban kiểm soát..
- Nhiệm kỳ của kiểm soát viên
Kiểm soát viên có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 nhiệm kỳ liên tục tại công ty đó, trong khi Luật Doanh nghiệp 2014 quy định nhiệm kỳ tối đa của Kiểm soát viên không quá 2 nhiệm kỳ.
- Chế độ làm việc của Trưởng Ban kiểm soát và Ban kiểm soát
Luật Doanh nghiệp 2020 bổ sung quy định Trưởng Ban kiểm soát có thể được bổ nhiệm làm Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên của không quá 04 Doanh nghiệp nhà nước.
Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên của Doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ không được kiêm nhiệm các chức danh như: Kiểm soát viên, Chủ Doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch HĐTV, thành viên HĐTV, Chủ tịch Công ty, Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT tại Doanh nghiệp khác không phải là Doanh nghiệp nhà nước, đây cũng là một quy định mới tại Luật Doanh nghiệp 2020.
- Tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên Ban kiểm soát
Một trong những tiêu chuẩn, điều kiện của Trưởng Ban Kiểm soát, Kiểm soát viên Doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ phải có “bằng tốt nghiệp đại học trở lên” thuộc một trong các chuyên ngành kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tại Luật Doanh nghiệp 2020 đã thay thế quy định “được đào tạo” những chuyên ngành này tại Luật Doanh nghiệp 2014.
Kể từ ngày 01/01/2021, khi Luật Doanh nghiệp 2020 có hiệu lực thi hành, những Kiểm soát viên chưa đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo Luật Doanh nghiệp 2020 được tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đến hết thời gian còn lại của nhiệm kỳ (Điều 218, Luật Doanh nghiệp 2020).
Thông tin liên hệ
Cơ quan chủ quản: NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)
Địa chỉ: 300 Tôn Đức Thắng - Phường Ô Chợ Dừa - Thành phố Hà Nội
Điện thoại/Fax: (+84-024) 3935 2884; 3719 2698
Email: contact@sbvamc.vn