Khó khăn, vướng mắc trong hoạt động mua, bán và xử lý nợ và đề xuất tháo gỡ

15/08/2018 23:12 GMT+7 1.752

Công ty TNHH Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được thành lập và hoạt động theo Quyết định số 1459/QĐ-NHNN ngày 27/06/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Với nhiệm vụ chính là xử lý khối nợ xấu có chiều hướng ngày càng gia tăng, đặc biệt, phải chuẩn bị hành trang cho quá trình tái cơ cấu các Tổ chức tín dụng (TCTD) và phân loại chất lượng theo thông lệ quốc tế mà không phải sử dụng vốn ngân sách của nhà nước, hoạt động mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC đã gặp không ít những khó khăn cả về khung pháp lý cũng như nguồn lực về vốn, công nghệ và nhân lực.

Được sự quan tâm đặc biệt của Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, các vấn đề vướng mắc về pháp lý của ngành ngân hàng liên quan đến xử lý nợ xấu về cơ bản đã được tháo gỡ. Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 15/8/2017 đã trở thành văn bản pháp lý quan trọng thể hiện chủ trương đúng đắn, kịp thời của Quốc hội nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

Khó khăn, vướng mắc trong hoạt động xử lý nợ trước khi có Nghị quyết 42 và tiền đề cho sự ra đời Nghị quyết 42 của Quốc hội

Tương tự như các Tổ chức tín dụng, hoạt động xử lý nợ thông qua các thủ tục tố tụng cũng như các biện pháp phi tố tụng của VAMC trong thời gian qua gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện.

Thứ nhất, xử lý nợ thông qua các biện pháp phi tố tụng,đặc biệt là công tác thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong thực tế còn gặp rất nhiều khó khăn, chưa hiệu quả và thường kéo dài hơn dự kiến. Quyền thu giữ tài sản bảo đảm khi xử lý nợ của các TCTD, cũng như VAMC khi kế thừa quyền chủ nợ của TCTD, mặc dù là quyền đương nhiên được hưởng theo Nghị định 178/1999/NĐ-CP và Nghị định 163/2006/NĐ-CP, tuy nhiên, việc thực thi quy định này trong thực tế rất khó khăn do chủ tài sản không đồng thuận, cố tình chống đối, thậm chí tạo ra các tranh chấp khác để làm chậm trễ việc xử lý tài sản bảo đảm. TCTD và VAMC cũng chưa nhận được sự ủng hộ và hỗ trợ nhiệt tình của cơ quan công an, chính quyền địa phương trong quá trình thu giữ. VAMC/TCTD mặc dù là bên bị thiệt hại do khách hàng không trả nợ đúng hạn như cam kết và có quyền thu giữ tài sản bảo đảm nhưng nhiều vụ việc thu giữ tài sản bảo đảm của các TCTD, đặc biệt đối với tài sản bảo đảm là nhà ở của cá nhân thường không nhận được sự ủng hộ của dư luận, báo chí. Thêm vào đó, từ khi Luật dân sự năm 2015 có hiệu lực, quyền thu giữ tài sản bảo đảm của VAMC/TCTD rất khó thực hiện, trong khi khởi kiện ra tòa mất rất nhiều thời gian và kinh phí, hoạt động xử lý nợ của VAMC và các TCTD do đó càng gặp nhiều khó khăn hơn.

Ngoài ra, việc xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản, dự án bất động sản hình thành trong tương lai gặp nhiều trở ngại từ các thủ tục pháp lý, đặc biệt là các dự án còn dở dang và nợ nghĩa vụ thuế.

Thứ hai, đối với hoạt động xử lý nợ qua tố tụng, việc kế thừa quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng mua bán nợ và cơ chế ủy quyền cho các tổ chức tín dụng cũng gặp không ít khó khăn khi triển khai thực hiện.

VAMC mua nợ và được kế thừa quyền chủ nợ từ TCTD, tuy nhiên, VAMC không phải là đối tượng được nhận thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của tổ chức kinh tế. Điều này gây khó khăn cho VAMC và các TCTD khi khách hàng, bên bảo đảm muốn bổ sung, thay thế TSBĐ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của các tổ chức kinh tế. Bên cạnh đó, nhiều Tòa án, cơ quan thi hành án còn lúng túng và có cách xử lý khác nhau khi xác định tư cách tham gia tố tụng, thi hành án của VAMC. Thậm chí, có trường hợp các cơ quan nói trên không chấp nhận cho VAMC kế thừa quá trình tố tụng, thi hành án của TCTD mà yêu cầu VAMC nộp lại Đơn khởi kiện, Đơn yêu cầu thi hành án, xử lý vụ việc lại từ đầu, gây tốn kém thời gian, chi phí.

Cơ chế ủy quyền giữa VAMC và TCTD là cơ chế đặc thù được quy định cụ thể trong Nghị định 53/2013/NĐ-CP, Thông tư 19/2013/TT-NHNN và không trái với quy định của Bộ luật dân sự 2005. Tuy nhiên, do hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ, sai khác trong cách hiểu và thực thi của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên việc ủy quyền pháp nhân cho pháp nhân giữa VAMC và các TCTD lại là nguyên nhân làm phức tạp thêm các thủ tục, quy trình xử lý nợ xấu, đặc biệt tại các giai đoạn tố tụng tại Tòa án và thi hành án. Nhiều Tòa án, cơ quan thi hành án không chấp nhận các Hợp đồng ủy quyền của VAMC, buộc VAMC phải lựa chọn phương thức ủy quyền cho cá nhân cán bộ của TCTD để tham gia tố tụng tại Tòa án, mặc dù phương thức này chưa đựng nhiều rủi ro do các cá nhân này không có ràng buộc với VAMC. Thêm vào đó, mặc dù Hợp đồng ủy quyền ghi rõ TCTD được VAMC ủy quyền ký Đơn khởi kiện, Đơn yêu cầu thi hành án và các văn bản có liên quan khác, tuy nhiên, một số Tòa án, cơ quan Thi hành án không chấp nhận hình thức này và yêu cầu VAMC ký Đơn khởi kiện, Đơn yêu cầu thi hành án, khiến cho việc xử lý nợ qua VAMC bằng biện pháp tố tụng, thi hành án phức tạp và kéo dài hơn.

Ngoài ra còn có các trường hợp như: khi vụ việc đưa ra tố tụng thì bị đình chỉ do khách hàng không có nơi cư trú ổn định, cố tình trốn tránh, không hợp tác; TSBĐ bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ khác; tranh chấp kéo dài liên quan đến hộ gia đình sử dụng đất; tranh chấp liên quan đến việc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của bên thứ ba…

Thứ ba, hoạt động mua nợ theo giá trị thị trường cũng gặp không ít trở ngạikhi đối tượng mua, bán nợ của VAMC bị hạn chế, các quy định về điều kiện khoản nợ xấu được mua nợ theo giá trị thị trường tại các văn bản pháp luật dẫn đến cách hiểu VAMC chỉ được mua các khoản nợ đang được hạch toán nội bảng; VAMC không được bán nợ cho các cá nhân, tổ chức không có ngành nghề kinh doanh mua bán nợ. Việc đàm phán giá mua bán nợ với các TCTD cũng rất khó thành công, một phần do sự e ngại của các TCTD khi bán nợ liên quan đến trách nhiệm của người cho vay.

Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu và chuyển biến trong hoạt động của VAMC.

Xuất phát từ các khó khăn, vướng mắc về nguồn lực và cơ chế trong giai đoạn 2014-2016, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 42 nhằm giải quyết phần lớn các khó khăn, vướng mắc liên quan đến cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho VAMC trong hoạt động xử lý nợ xấu. Nghị quyết 42 tuy chưa được Quốc hội ban hành như một Bộ Luật riêng về xử lý nợ xấu nhưng là văn bản pháp luật cao nhất từ trước đến nay đối với hệ thống TCTD chỉ sau Luật Các TCTD, theo đó, quyền chủ nợ được khẳng định và bảo vệ thông qua các quy định rõ ràng về quyền thu giữ tài sản của các TCTD, VAMC, quyền ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho TCTD, VAMC khi xử lý tài sản bảo đảm của khách hàng, bên bảo đảm để thu hồi nợ. Ngoài ra, việc mở rộng đối tượng mua, bán nợ theo giá trị thị trường, nhận thế chấp bổ sung tài sản bảo đảm… cũng tạo tiền đề cho hoạt động mua, bán và xử lý nợ có những thay đổi theo chiều hướng tích cực và hiệu quả. Như vậy, hành lang pháp lý đối với hoạt động xử lý nợ xấu đã được hoàn thiện sau thời gian dài ngành ngân hàng phải đối diện với khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết 42, ngày 19/7/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 32/CT-TTg giao nhiệm vụ cho các Bộ, ngành triển khai thực hiện Nghị quyết 42 với lộ trình thực hiện cụ thể bảo đảm tính khả thi, kịp thời.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính Phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Chỉ thị 06/CT-NHNN ngày 20/7/2017 quy định cụ thể các biện pháp, trách nhiệm mà Ngân hàng Nhà nước, các TCTD và VAMC cần thực hiện để bảo đảm thực hiện hiệu quả Nghị quyết 42 và Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng đã ban hành Thông tư 09/2017/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư 19/2013/TT-NHNN về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC phù hợp với các quy định tại Nghị quyết 42.

Nhằm nâng cao năng lực của VAMC, đồng thời đẩy mạnh hoạt động mua bán nợ xấu theo cơ chế thị trường, cuối năm 2017, Ngân hàng Nhà nước cấp đủ vốn điều lệ cho VAMC theo Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 31/3/2015. Tiếp theo đó, ngay từ những ngày đầu năm 2018, Ngân hàng Nhà nước đã có Quyết định số 28/QĐ-NHNN ngày 05/01/2018 phê duyệt Đề án cơ cấu lại và nâng cao năng lực của VAMC giai đoạn 2017-2020 và hướng tới 2022.

Với những thay đổi về mặt chính sách, cơ chế, nguồn lực về vốn đã được bổ sung, hoạt động mua, bán và xử lý nợ của VAMC đã đạt được những kết quả khả quan. Trong đó, theo báo cáo kết quả hoạt động năm 2017 của VAMC,năm 2017 là năm đầu tiên VAMC đạt được kết quả khả quan trong hoạt động mua nợ theo giá trị thị trường với tổng giá trị khoản nợ mua thị trường đạt hơn 3.000 tỷ đồng (theo giá mua nợ). Sau khi mua nợ, VAMC đã nỗ lực triển khai xử lý, đôn đốc khách hàng trả nợ, áp dụng các biện pháp xử lý nợ phù hợp, kể cả biện pháp mạnh như thu giữ tài sản bảo đảm, nhằm thu hồi trong thời gian sớm nhất các khoản nợ đã mua. Theo đó, dự kiến đến hết Quý III/2018, VAMC có thể xử lý về cơ bản các khoản nợ đã mua theo giá trị thị trường.

Cùng với kết quả mua nợ thị trường, với việc áp dụng các biện pháp mạnh trong hoạt động xử lý nợ, kết quả thu hồi sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết 42 cũng có sự chuyển biến tích cực. Theo đó, lũy kế từ khi thành lập đến tháng 5/2018, VAMC đã thu hồi được gần 90 ngàn tỷ đồng từ các khoản nợ xấu đã mua, trong đó, riêng năm 2017, số thu hồi nợ của VAMC đạt gần 31.000 tỷ đồng (gần bằng 2/3 tổng giá trị thu hồi nợ của cả 4 năm trước đó), hoàn thành vượt mức kế hoạch 40%.

Mặc dù kết quả mua và xử lý nợ xấu của VAMC cũng như các TCTD đã có những chuyển biến tích cực sau khi Nghị quyết 42 có hiệu lực, tuy nhiên, trong qua trình triển khai thực hiện, vẫn tồn tại một số khó khăn chưa được giải quyết, trong đó, phải kể đến một số vướng mắc cơ bản sau:

Thứ nhất, về quyền thu giữ tài sản bảo đảm, Nghị quyết 42 cho phép TCTD và VAMC được quyền thu giữ tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, điều kiện lớn nhất để TCTD, VAMC có quyền thu giữ TSBĐ là tại Hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD có quyền thu giữ TSBĐ. Do vậy, nếu Hợp đồng bảo đảm không thỏa thuận cụ thể về quyền thu giữ hoặc có thỏa thuận những nội dung không rõ ràng có thể gây bất lợi cho TCTD trong việc phối hợp với các cơ quan chức năng để thực hiện quyền lợi của mình.

Thứ hai, về quyền nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là tài sản bảo đảm của khoản nợ đã mua được quy định tại Điều 9 Nghị quyết 42tại Phần II

Theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 13 Nghị định 53/2013/NĐ-CP thì VAMC trở thành bên nhận bảo đảm và được thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm dựa trên hợp đồng mua bán nợ xấu mà không phải ký lại hợp đồng bảo đảm với bên bảo đảm. Điểm b Khoản 2 Điều 24 Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23/6/2016 quy định hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung thế chấp có thể cung cấp: “Hợp đồng mua bán nợ, trong đó có thỏa thuận về việc bổ sung, rút bớt tài sản thế chấp; rút bớt, bổ sung hoặc thay thế bên thế chấp, bên nhận thế chấp”, theo quy định này, VAMC đã thực hiện việc đăng ký thay đổi bên nhận bảo đảm.

Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 18 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm quy định việc đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm đã đăng ký trong trường hợp rút bớt, bổ sung hoặc thay thế bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm theo thỏa thuận của bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm. Điểm b Khoản 1 Điều 43 Nghị định 102 quy định hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm phải có Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp. Các quy định này là chưa phù hợp với hoạt động mua bán nợ của VAMC.

Ngoài ra, một số trường hợp khi VAMC đề nghị đăng ký giao dịch bảo đảm nhưng Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không chấp thuận vì không có chữ ký của Bên thế chấp (Do trường hợp này không thuộc đối tượng được miễn chữ ký trên đơn đăng ký theo quy định tại Điều 10 Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23/6/2016). Trong thực tế, nếu khách hàng/Bên bảo đảm không hợp tác thì sẽ rất khó có được chữ ký. Một số Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không nhận hồ sơ đề nghị của VAMC vì lý do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể của Bộ tài nguyên môi trường và Sở tư pháp.

Thứ ba, Đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho tổ chức, cá nhân mua nợ từ VAMC

Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 đã hướng dẫn về việc đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho tổ chức mua bán nợ mà quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất có nguồn gốc từ khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoàitại Nghị quyết 42, tuy nhiên, chưa có hướng dẫn về việc đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho cá nhân mua nợ của VAMC.

Thứ tư, khó khăn vướng mắc trong hoạt động xử lý tài sản bảo đảm đối với các khoản nợ xấu trong lĩnh vực bất động sản

Hiện nay, hoạt động thu hồi nợ xấu của VAMC và các TCTD phụ thuộc nhiều vào việc xử lý tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, trường hợp khách hàng vay có nợ xấu tại VAMC/TCTD, thế chấp tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai và/hoặc các quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng hợp tác đầu tư với Chủ đầu tư để thực hiện Dự án đấu tư xây dựng bất động sản (không phải trực tiếp là chủ đầu tư dự án), khi khách hàng không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, VAMC/TCTD không thể áp dụng biện pháp thu giữ tài sản bảo đảm. Việc xử lý phải thông qua hoạt động khởi kiện, trong trường hợp có bản án thì việc thi hành án để phát mại tài sản là Quyền tài sản cũng rất khó khăn.

Theo các quy định hiện nay, việc chuyển nhượng các bất động sản là dự án còn dở dang vẫn áp dụng theo Luật kinh doanh bất động sản. Theo đó, khi chuyển nhượng các bất động sản này phải có sự đồng ý của Bên thế chấp, gây khó khăn cho VAMC khi xử lý tài sản này trong trường hợp khách hàng, bên thế chấp không hợp tác. Vì vậy, để xử lý được các BĐS là dự án còn dở dang theo Nghị quyết 42, VAMC kiến nghị Bộ tài nguyên môi trường sớm ban hành các quy định, hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất tại các địa phương khi xử lý TSBĐ theo Nghị quyết 42.

Thứ năm, về ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho VAMC

Theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết 42, số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho TCTD, tổ chức mua, bán, xử lý nợ xấu trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm của bên bảo đảm. Tuy nhiên, trên thực tế, trường hợp bên chuyển nhượng không hoặc chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với cơ quan thuế sẽ không thực hiện được thủ tục chuyển nhượng cho người mua tài sản. Do đó, quy định về thứ tự ưu tiên nói trên chưa được thực thi trên thực tế.

Thứ sáu, về việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp theo Điều 8 Nghị quyết 42

Điều 8 Nghị quyết 42 quy định việc tòa án được áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu. Ngày 15/5/2018 Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn về việc áp dụng thủ tục rút gọn theo Điều 8 Nghị quyết 42.

Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 3 Điều 317 về điều kiện áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn và Khoản 4 Điều 323 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới mà các bên đương sự không thống nhất làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án phải ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. 

Như vậy, trường hợp bên có nghĩ vụ trả nợ/chủ tài sản/bên bảo đảm không hợp tác, chống đối, rất dễ dẫn đến trường hợp cố tình tạo ra các tình tiết mới để đưa vụ án về thủ tục tố tụng thông thường, nhằm mục đích kéo dài thời gian giải quyết vụ việc. Do đó, nếu không có hướng dẫn cụ thể với những quy định nêu trên, biện pháp áp dụng các thủ tục rút gọn có thể không phát huy được hiệu quả xử lý trong thực tế như kỳ vọng khi Ban hành Nghị quyết 42.

Thứ bảy, về hợp đồng ủy quyền giữa VAMC và các TCTD

Tòa án, cơ quan thi hành án tại nhiều địa phương chỉ công nhận các Hợp đồng ủy quyền giữa VAMC và TCTD ký từ thời điểm ngày 01/01/2017 (thời điểm Bộ Luật dân sự 2015 có hiệu lực), yêu cầu VAMC và các TCTD ký lại Hợp đồng ủy quyền đã ký trước thời điểm này;

Tòa án không chấp nhận các Hợp đồng ủy quyền giữa VAMC và TCTD do người đại diện hợp pháp của VAMC ký mà yêu cầu phải do người đại diện theo pháp luật của VAMC ký.

Thứ tám, về hành lang pháp lý cho việc hình thành sàn giao dịch nợ cũng như thị trường mua bán nợ

Hiện tại, Chính phủ mới chỉ ban hành Nghị định quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và Bộ Tài chính mới đang được giao xúc tiến xây dựng Dự thảo Nghị định quy định về hoạt động mua bán nợ, hành lang pháp lý cho việc hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ cũng như sàn giao dịch nợ vẫn còn là một khoảng trống chờ hướng dẫn của các cơ quan chức năng.

Ngoài ra, các khoản nợ được giao dịch trên thị trường mua bán nợ hoặc sàn giao dịch mua bán nợ sẽ phải được giao dịch công khai, cho mọi đối tượng đủ điều kiện, có nhu cầu mua có thể tiếp cận. Tuy nhiên, các khoản nợ của VAMC trước khi được phép bán thỏa thuận trên thị trường phải trải qua nhiều thủ tục và điều kiện. Đối với các khoản nợ mua bằng trái phiếu đặc biệt, phải trải qua bước bán đấu giá hoặc chào giá cạnh tranh ít nhất một lần không thành, VAMC mới được bán khoản nợ theo phương thức thỏa thuận. Đối với khoản nợ mua theo giá trị thị trường, VAMC cũng chỉ được bán khoản nợ theo phương thức thỏa thuận trực tiếp khi đáp ứng được điều kiện giá bán khoản nợ không thấp hơn giá trị ghi sổ số dư nợ gốc của khoản nợ xấu tại VAMC hoặc sau khi đã bán nợ theo phương thức đấu giá hoặc chào giá cạnh tranh không thành. Những quy định này nhằm đảm bảo công khai, minh bạch, hạn chế việc thông đồng giữa người mua, người bán trong hoạt động xử lý nợ, tuy nhiên, mặt khác lại làm hạn chế khả năng tham gia cũng như việc khẳng định vai trò trung tâm phát triển thị trường mua bán nợ của VAMC.

Theo đề án cơ cấu lại và nâng cao năng lực của VAMC giai đoạn 2017-2020 và hướng tới 2022, từ năm 2018, VAMC sẽ tập trung vào mua, bán, xử lý nợ xấu đã mua theo giá trị thị trường. Tuy nhiên, tham gia thị trường mua bán nợ với vai trò bình đẳng như các chủ thể khác nghĩa là sẽ bị chi phối bởi biến động của thị trường mua bán nợ. Do đó, VAMC sẽ phải cân nhắc kỹ trước khi xúc tiến các giao dịch mua bán nợ khi bị ràng buộc bởi quy định phải bảo toàn vốn Nhà nước. 

Đề xuất của VAMC nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ

Trước tình hình hệ thống pháp luật của Việt Nam còn nhiều điểm chưa đồng bộ thì mô hình xử lý nợ đặc thù như VAMC với rất nhiều quy định pháp luật điều chỉnh không tránh khỏi cách hiểu, cách áp dụng pháp luật khác nhau của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hiện tại, phần lớn trở ngại về mặt chính sách đối với hoạt động xử lý nợ xấu đã được tháo gỡ, tuy nhiên, việc phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt Nam lại mới ở bước khởi đầu. Trong thời gian tới, VAMC mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của các Bộ, Ngành có liên quan trong việc hướng dẫn quy định pháp luật, thống nhất cách hiểu các quy định pháp luật, cách xử lý đối với các vụ việc để đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu. Đặc biệt trong các vấn đề sau:

Một là,Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân trong trường hợp chuyển nhượng tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu, bảo đảm tính thực thi cho quy định về “Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm”, bảo đảm quyền lợi của bên mua TSBĐ”.

Hai là, Bộ tài nguyên môi trường sớm ban hành quy định: (i) Bổ sung hướng dẫn đối với quyền nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là tài sản bảo đảm cho các khoản nợ mà các tổ chức, cá nhân mua lại từ VAMC theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 42; (ii) Bổ sung đối tượng được miễn chữ ký trên đơn đăng ký giao dịch bảo đảm để đảm bảo tính nhất quán trong thực thi quy định về quyền nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là tài sản bảo đảm của khoản nợ đã mua của Công ty Quản lý tài sản theo Nghị quyết 42; (iii) Hướng dẫn thủ tục chuyển nhượng tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là dự án bất động sản đang dở dang.

Ba là, Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên môi trường ban hành Thông tư thay thế Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, trong đó, đề nghị giữ nguyên nội dung về việc ghi nhận Hợp đồng mua bán nợ là tài liệu chứng minh nội dung thay đổi (như đang quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 24 Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT)

Bốn là,các quy định của pháp luật hướng dẫn cụ thể về hoạt động mua bán nợ sớm được ban hành để tạo hành lang pháp lý vững chắc cho thị trường mua bán nợ của Việt Nam.

TS. Đoàn Văn Thắng - Tổng Giám đốc VAMC
Top